Vách ngăn phòng,vách ngăn văn phòng,vach ngan van phong,vach ngan di dong,vách ngăn di động
TIN TỨC Các kỹ thuật khác

Khái niệm về Artemia

Nguồn trứng artemia thu hoạch từ các bãi nuôi bên bờ hồ nước mặn luôn dồi dào quanh năm. Sau khi thu hoạch và xử lý, trứng ở trạng thái tiềm sinh có thể được trữ trong nhiều năm trời và đem ra sử dụng như là “nguồn thức săn tươi sống luôn có sẵn”. Trứng nở thành ấu trùng sau khi được ấp trong nước biển trong khoảng từ 20-36 giờ có thể được sử dụng ngay làm thức ăn cho tôm giống và cá bột của hàng loạt các loài cá biển và cá cảnh nước ngọt.

Sự thuận tiện và đơn giản của việc ấp artemia làm cho chúng trở thành nguồn thức ăn tươi sống thuận tiện nhất trong nghành chăn nuôi thủy sản. Artemia là loài ăn uống không kén chọn, chúng có thể tiêu thụ nhiều loại thức ăn khác nhau. Ngoài ra, artemia là loại thức ăn giàu dinh dưỡng và giàu lượng acid béo không bão hòa (HUFA). 

 

Hình ảnh
Hình 1. Vòng đời của artemia. Ảnh Jason Chaulk.

Phân bố

  Các quần thể Artemia được tìm thấy ở 500 hồ tự nhiên và nhân tạo trên thới giới, rải rác khắp vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới. Chúng có thể phân bố dọc ven biển hay cả những hồ nước mặn trong nội địa.

Sự phân bố tự nhiên của Artemia trên thới. Nguồn: Mekongfish


Sự phân bố tự nhiên của artemia trên thế giới

 

Một số loài Artemia được xác định theo đặc điểm phân bố:

A. salina (Linnaeus 1758) Lymington, England (now extinct), khu vực Địa Trung Hải.· A. tunisiana (Bowen and Sterling 1978 ) ở Châu Âu. · A. parthenogenetica ( Barigozzi 1974, Bowen and Sterling 1978): Europe, Africa, Asia, Australia; · A. urmiana (Gunther 1900): Iran.· A. sinica (Yaneng 1989): Central and Eastern Asia; · A. persimilis (Piccinelli and Prosdocimi 1968): Argentina; · A. franciscana có nhiều loài ở Mỹ, Carribean và các đảo ở Thái Bình Dương như: A.(franciscana) franciscana ( Kellogg 1906) and A.(franciscana) monica (Verrill 1869) hồ Mono, California. · Artemia sp.( Pilla and Beardmore 1994): Kazakhstan.

 

Các quần thể Artemia phân bố không liên tục mà thành từng vùng. Mặc dù có nhiều nơi có nước mặn cao, song không phải nơi nào cũng có Artemia phân bố. Artemia có khả năng sống rất tốt trong nước biển bình thường, song chúng không thể phát tán ngang qua các biển do có quá nhiều loài cạnh tranh và địch hại. Vì thế, Artemia phân bố chủ yếu ở cùng nước có độ mặn cao (trên 70ppt) để hạn chế kẻ thù. Chúng có thể sống ở cả độ mặn gần bão hòa (250ppt). Để thích nghi với điều kiện đó, Artemia có hệ thống điều hòa áp suất thẩm thấu rất tốt, có khả năng tổng hợp sắc tố hô hấp để thích ứng với điều kiện Oxy thấp trong nước có độ mặn cao, và có khả năng sản xuất trứng bào xác khi môi trường không thuận lợi.

Các quần thể Artemia có thể phân bố ở nhiều vùng địa lý khác nhau với nhiệt độ (6-35oC), độ mặn hay thành phần của nước khác nhau. Nhiều vùng có độ mặn quá cao và thành phần chủ yếu là muối NaCl như ở các sân muối ven biển. Có nhiều hồ nước mặn cũng có thành phần nước khác biệt lớn với nước biển tự nhiên như nước giàu Sulphate ở Chaplin lake- Canada; nước giàu Carbonate ở Mono lake-USA; nước giàu Potasium ở các hồ của Nerbraska-USA.


Do Artemia không thể phát tán chủ động, vì thế gió và chim biển là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát tán của Artemia trong tự nhiên. Ngoài ra sự chuyển, nhập, và thả giống Artemia do can người cũng làm cho Artemia trở nên rộng rãi ở nhiều vùng khác nhau trên thới giới.


Vòng đời của artemia:


Vòng đời của artemia bắt đầu từ khi trứng nở. Trứng là một phôi thai thụ động, chúng có thể ở trạng thái tiềm sinh trong nhiều năm chừng nào còn được giữ khô và có đầy đủ ôxy. Khi trứng được bỏ vào nước muối, chúng hút nước và bắt đầu phát triển. [Hình 3]

 

Sau khi ngâm nước từ 15 đến 20 giờ ở 25 độ C thì vỏ trứng vỡ ra giải phóng phôi thai. Rất nhanh sau đó, màng bao ngoài vỡ ra, ấu trùng ra đời và bơi tự do trong nước. Trong giai đoạn đầu đời, ấu trùng (dài khoảng 400 -500 µm) có màu cam nâu bởi sự hiện diện của túi dinh dưỡng ở ổ bụng. Ấu trùng mới nở chưa ăn uống gì vì miệng và hậu môn của chúng chưa phát triển [Hình 4].

 

Gần 24 tiếng sau, ấu trùng chuyển sang giai đoạn 2. Những hạt thức ăn có kích thước từ 1 đến 50 µm được hút vào ống tiêu hóa. Trong 8 ngày kế tiếp, ấu trùng tăng trưởng và phát triển qua 15 giai đoạn trước khi đạt đến độ bán trưởng thành. Artemia trưởng thành có kích thước khoảng 8 mm nhưng cũng có thể đạt 20 mm trong môi trường lý tưởng. Chúng có chiều dài gấp 20 lần và thể tích gấp 500 lần so với ấu trùng. Artemia đực có một cặp gai sinh dục ở cuối thân còn artemia cái trưởng thành có thể dễ dàng được nhận dạng qua túi trứng [Hình 5].



Hình ảnh
Hình 3. (trên) trứng artemia (giữa) trứng phóng to (dưới) trứng đang nở.



Hình ảnh
Hình 4. Ấu trùng artemia 8 giờ tuổi. Ảnh Jason Chaulk.



Hình ảnh
Hình 5. Một cặp artemia. Ảnh Jason Chaulk.



Trong môi trường có độ mặn thấp và dồi dào thức ăn, con cái thường cho ra đời khoảng 75 ấu trùng một ngày (phương thức đẻ con). Mỗi con cái có thể đẻ từ 10-11 ổ trứng trong vòng đời trung bình 50 ngày của chúng. Nhưng dưới điều kiện lý tưởng, một con artemia có thể sống lâu đến 3 tháng và cho ra đời khoảng 300 ấu trùng hay trứng mỗi 4 ngày. Ở điều kiện không thích hợp chẳng hạn như độ mặn cao, thiếu thức ăn hay ôxy, artemia sẽ đẻ trứng. Trứng phát triển thành dạng phôi thai và được bao phủ bởi lớp vỏ dày. [Hình 6] Sự hình thành lớp vỏ này khởi đầu cho trạng thái tiềm sinh và bào nang được con cái phóng thích (phương thức đẻ trứng), chúng dạt lên bờ và khô đi. Artemia cái có thể thay đổi từ phương thức sinh sản này sang phương thức sinh sản khác.


Artemia trưởng thành có thể chịu đựng được tầm nhiệt độ từ -18 đến 40 độ C. Có sự khác biệt giữa các dòng artemia về nhiệt độ tối ưu để trứng nở và sự tăng trưởng ở con trưởng thành. Nhiệt độ tối ưu với dòng artemia ở vịnh San Francisco là 22 độ C so với 30 độ C với dòng artemia ở hồ Lớn (Bossuyt, 1980). Artemia phù hợp với độ mặn 30-35 mg/l và có thể sống trong nước ngọt lâu đến 5 giờ.

 


Hình ảnh
Hình 6. (trên) Artemia cái với buồng trứng (giữa và dưới) Hình dạng thân và đầu của artemia đực. Ảnh Jason Chaulk.



Thức ăn:


Artemia là loài ăn uống không kén chọn, chúng ăn từ bã hữu cơ, vi tảo đến vi khuẩn. Thức ăn không được tiêu thụ trực tiếp mà được đưa vào miệng thành từng gói. Nếp gấp giữa những cái chân mở rộng khi chúng khua về phía trước. Nước được hút vào vùng này từ phía dưới và những cái lông mao lọc lấy thức ăn từ dòng nước. Khi những cái chân khua về phía sau, nước bị đẩy ra khỏi vùng này và thức ăn được giữ lại trong một rãnh ở giữa mỗi chân. Rãnh này tiết ra chất keo dính để gắn kết thức ăn thành từng viên. Một khi những viên thức ăn đã sẵn sàng, các lông mao sẽ di chuyển chúng đến miệng. Kích thước tối đa của các viên thức ăn là 50 µm với ấu trùng và 60 µm với artemia trưởng thành.



Điều kiện để trứng nở:


Mặc dù việc ấp một số lượng nhỏ trứng Artemia rất đơn giản nhưng rất nhiều thông số cần phải cân nhắc để trứng nở :
- Lồng ấp
- Xục khí
- Nhiệt độ
- Độ mặn
- pH
- Mật độ trứng
- Độ chiếu sáng



Lồng ấp có đáy hình nón và sục khí từ phía dưới cho kết quả nở tốt nhất. Lồng ấp hình trụ và khối có điểm chết mà trứng và ấu trùng bị dồn cục ở đó. Lồng ấp bằng nhựa trong (như lọ nước suối 2 lít) thực sự hữu ích vì nó cho phép kiểm tra quá trình ấp.

Cần phải sục khí đủ mạnh để duy trì nồng độ ôxy đủ cao bởi vì nồng độ ôxy càng cao thì tỷ lệ nở càng cao. Tránh làm tràn bọt vì trứng ngậm nước sẽ bị cuốn ra ngoài cùng với bọt. Ở nhiệt độ lý tưởng 25-28 độ C trứng sẽ nở tối đa; dưới 25 độ C trứng sẽ nở chậm còn trên 33 độ C thì trứng ngừng nở. Tóm lại, những điều kiện lý tưởng để trứng nở gồm: nhiệt độ 25 độ C, độ mặn - 1.030, độ pH từ 8 đến 8.5, sục khí thật mạnh và liên tục.


Hình ảnh
 

Hình 8. Sơ đồ mô tả bồn ấp đơn giản làm bằng bình nước suối 2 lít. Hình Matt Lidenfelser.



Ấu trùng mới nở rất bổ dưỡng và có thể đem cho ăn ngay. Túi dinh dưỡng ở ổ bụng làm cho ấu trùng có màu vàng. Nếu bạn để sau 24 giờ thì ngày hôm sau túi dinh dưỡng đã được tiêu thụ hết; ấu trùng bắt đầu ăn và có thể được nuôi thúc bằng thức ăn có chứa thành phần dinh dưỡng đặc biệt.

 
Thu hoạch ấu trùng:


Khi thu hoạch, chỉ đơn giản ngừng sục khí và để khoảng 10 phút cho tất cả lắng xuống. Vỏ trứng nổi lên mặt nước còn ấu trùng mới nở cùng với trứng hư chìm xuống đáy. Bởi vì ấu trùng bị ánh sáng hấp dẫn nên chúng ta sử dụng một đèn pin chiếu vào khoảng giữa bồn ấp để tập trung chúng vào đấy rồi dùng ống siphon hút ra ngoài, hay trong các bồn ấp thương mại, người ta có thể xả van phía đáy bồn để lấy trứng hư ra rồi lại xả tiếp để lấy ấu trùng qua bồn chứa khác. Một cách nữa để thu hoạch artemia là dùng vợt (lỗ rất nhỏ) vớt bỏ hết vỏ trứng trên bề mặt. Sau đó dùng ống siphon nhỏ gắn với ống nhựa (đường kính khoảng 3 mm) để hút ấu trùng artemia ra và đem cho vật nuôi ăn.

 

(Sưu tầm từ Internet)