Vách ngăn phòng,vách ngăn văn phòng,vach ngan van phong,vach ngan di dong,vách ngăn di động
TIN TỨC Tin thủy sản

Tổng kết Chương trình Phát triển NTTS (1999 - 2010) và kế hoạch phát triển đến năm 2020

Tổng kết Chương trình Phát triển NTTS (1999 - 2010) và kế hoạch phát triển đến năm 2020


05/04/2011 Nhân hoạt động kỷ niệm 52 năm Ngày truyền thống Nghề cá Việt Nam (1/4/1959 - 1/4/2011), Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp & PTNT) đã phối hợp với UBND thành phố Hải Phòng tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình Phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) giai đoạn 1999 - 2010 và kế hoạch phát triển đến năm 2020 (ngày 1/4/2011, tại Cát Bà, Hải Phòng).     Thứ trưởng Nông nghiệp & PTNT,  Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản Vũ Văn Tám và Phó Chủ tịch thường trực UBND thành phố Hải Phòng Đa Đức Hiệp đã tham dự và chủ trì Hội nghị. Chương trình Phát triển NTTS giai đoạn 1999 - 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg, ngày 25/12/1999 (gọi tắt là Chương trình 224) bắt đầu triển khai từ năm 2000. Sau 10 năm phát triển, nuôi trồng thủy sản đã khẳng định đây là ngành một ngành kinh tế mũi nhọn trong sản xuất thủy sản, tạo ra nguồn hàng hóa dồi dào phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Năm 2010, diện tích NTTS cả nước là 1.096.722 ha (đạt 109,68% so với chỉ tiêu). Sản lượng NTTS là 2.828.622 tấn, đạt 141,4% so với kế hoạch. Về sản xuất giống, cơ bản đã đáp ứng đủ  nhu cầu nuôi thương phẩm, đặc biệt là giống các đối tượng nuôi chủ lực. Ví dụ, giống tôm nước lợ đạt 45 tỷ con, bằng 128,6% so với kế hoạch, giống cá tra là 2,36 tỷ con, bằng 337,25% so với kế hoạch, giống của một số loài thủy sản kinh tế và giống cá nước ngọt truyền thống là 27, 5 tỷ con, bằng 229,2% so với kế hoạch. Kim ngạch xuất khẩu từ NTTS đạt 3,5 tỷ USD, bằng 125% so với kế hoạch. Phát triển nuôi trồng thủy sản đã giải quyết được 3,5 triệu việc làm cho người lao động, bằng 175% chỉ tiêu đề ra. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng vùng NTTS, vùng sản xuất giống tập trung từng bước được đầu tư hoàn thiện. Hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS được cải thiện. Hệ thống các trung tâm quốc gia giống thủy sản, trung tâm giống thủy sản cấp I, trung tâm giống thủy sản các tỉnh, các khu vực sản xuất giống thủy sản tập trung được hình thành và đưa vào sử dụng có hiệu quả.  

   

Tại Hội nghị, các đại biểu đều đánh giá, Chương trình triển khai trong 10 năm qua đã tạo được sự thay đổi rõ nét về tư duy trong phát triển NTTS theo hướng sản xuất hàng hoá lớn. Khoa học công nghệ thủy sản đã có nhiều tiến bộ, đóng vai trò quan trọng vào sự thành công của Chương trình. Nhiều chính sách đã được ban hành góp phần thúc đẩy NTTS phát triển. Bên cạnh những kết quả đạt được, nhiều ý kiến phát biểu đã nêu những hạn chế trong quá trình triển khai. Phát triển nuôi biển còn lúng túng trong triển khai dẫn đến không đạt chỉ tiêu đề ra. Mức đầu tư cho Chương tình thấp, lại dàn trải nên hiệu quả đầu tư không cao. Hệ thống quản lý phát triển NTTS chưa được hoàn chỉnh và ổn định từ trung ương đến địa phương. Công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng giống và thức ăn còn nhiều bất cập. Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Vũ Văn Tám khẳng định, Chương trình 224 đã tạo ra bước đột phá, chuyển biến về chất đối với NTTS, là thành tựu đáng tự hào của ngành thủy sản Việt Nam. Sản lượng NTTS đã chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản lượng thủy sản. Các chỉ tiêu chủ yếu đặt ra đều đạt và vượt. Khoa học công nghệ đã đạt nhiều tiến bộ, làm chủ được các yếu tố công nghệ phục vụ NTTS. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được áp dụng, đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học có trình đọ cao. Nhiều cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời góp phần thúc đẩy NTTS phát triển mạnh trong thời gian qua, tạo được nhiều mô hình tổ chức sản xuất, đặc biệt là quản lý theo chuỗi sản phẩm. Phát triển NTTS đã tạo động lực cho các lĩnh vực khác phát triển như chế biến, xuất khẩu và dịch vụ NTTS theo hướng xã hội hoá.  Bên cạnh nhưng thành tựu đạt được, Thứ trưởng Vũ Văn Tám đã nhấn mạnh những hạn chế cần khắc phục. Trong thời gian, qua nuôi biển phát triển còn chậm, chưa phát huy lợi thế và chưa tương xứng với tiềm năng về mặt nước biển hiện có. Hiệu quả của các dự án đầu tư chưa cao như các mô hình nuôi tôm công nghiệp. Nhiều đối tượng nuôi đã được thử nghiệm nhưng chưa tạo được khối lượng hàng hóa lớn và bền vững. Về tiêu thụ, nhiều đối tượng nuôi chưa tìm được thị trường ổn định, trong khi suất đầu tư lớn và nhiều rủi ro. Quá trình phát triển NTTS cũng bộc lộ nhiều yếu tố thiếu bền vững như công tác quy hoạch không theo kịp yêu cầu phát triển nuôi trồng thuỷ sản; Đầu tư cho NTTS đã được chú trọng hơn nhưng còn dàn trải và chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu đầu tư chung của Nhà nước; Nhiều chương trình chưa đạt được mục tiêu đề ra do không có nguồn kinh phí; Môi trường tại các vùng nuôi chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, do đó cũng hạn chế kết quả thực hiện Chương trình. Bên cạnh đó, phát triển NTTS chưa thể hiện rõ sự gắn kết giữa công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ với thực tiến NTTS và chưa đáp ứng nhu cầu của người nuôi ở các lĩnh vực cơ bản như con giống, công nghệ nuôi, quản lý môi trường và dịch bệnh. Cùng với việc triển khai thực hiện Chiến lược Phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, ngày 03/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 332/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển NTTS đến năm 2020. Mục tiêu chung của Đề án là phát triển nhanh NTTS theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, có hiệu quả với sức cạnh tranh cao và phát triển bền vững. NTTS phải trở thành ngành sản xuất chủ lực cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, tăng nguồn thu nhập cho nông, ngư dân, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng vùng biển đảo của Tổ quốc. Mục tiêu cụ thể của Đề án là, đến năm 2015, sản lượng NTTS đạt 3,60 triệu tấn, với diện tích 1,10 triệu ha và giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,5 - 4,0 tỷ USD, giải quyết việc làm cho khoảng 3,0 triệu lao động. Đến năm 2020, sản lượng NTTS đạt 4,5 triệu tấn, với diện tích 1,2 triệu ha và giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 5 - 5,5 tỷ USD, giải quyết việc làm cho khoảng 3,5 triệu người. Trong đó, sản lượng cá tra đạt khoảng 1,5 - 2 triệu tấn, tăng trung bình 4,8%/năm; Tôm nước lợ đạt 700.000 tấn, tăng trung bình 5,76%/năm; nhuyễn thể đạt 400.000 tấn, tăng trung bình là 16,0%/năm; cá biển đạt 200.000 tấn, tăng trung bình là 14,9%/năm; Cá rô phi đạt 150.000 tấn, tăng trung bình 7,9%/năm; Rong tảo biển đạt 150.000 tấn, tăng trung bình 7,2%/năm; Tôm càng xanh đạt 60.000 tấn, tăng trung bình là 11,6%/năm. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ kết quả thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2000 – 2010 có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở để thực hiện thành công Chiến lược phát triển thủy sản và Đề án phát triển NTTS đến năm 2020, đưa thủy sản nói chung và NTTS nói riêng phát triển theo hướng bền vững và hiệu quả, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng và chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc.

(Tin từ Tổng cuc Thủy Sản)