Vách ngăn phòng,vách ngăn văn phòng,vach ngan van phong,vach ngan di dong,vách ngăn di động
TIN TỨC Tin thủy sản

Hội nghị tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh trên tôm năm 2012 và triển khai kế hoạch nuôi tôm nước lợ năm 2013

Năm 2012 là một năm nuôi tôm nước lợ gặp phải một số khó khăn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả nuôi tôm, đó là: dịch bệnh xảy ra trầm trọng, trên diện rộng, thức ăn, vật tư đầu vào cho nuôi tôm đắt đỏ, giá mua tôm một số thời điểm thấp, và rào cản thương mại về Ethoxyquin ở thị trường Nhật Bản...Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lãnh đạo các địa phương, sự lao động cần cù sáng tạo bà con nông ngư dân, hợp tác chặt chẽ của các doanh nghiệp, Hiệp hội thủy sản, nỗ lực lớn của các nhà khoa học, các chuyên gia quốc tế, nghề nuôi tôm nước lợ năm 2012 đã đạt được những thành quả đáng khích lệ.

Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2012, cả nước có 30 tỉnh, thành phố nuôi tôm nước lợ, với diện tích thả nuôi 657.523 ha, đạt sản lượng 476.424 tấn. So với năm 2011 diện tích tăng 0,2%, sản lượng giảm 3,9%. Trong đó, nuôi tôm sú chiếm  94,1% tổng diện tích và 62,7% sản lượng tôm nuôi trong cả nước. Tôm thẻ nuôi chiếm 5,9% diện tích, sản lượng chiếm 27,3%. Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi tôm nước lợ chủ yếu của cả nước, diện tích nuôi tôm là 595.723 ha, sản lượng 358.477 tấn (chiếm 90,61% diện tích, 75,2% sản lượng nuôi tôm cả nước), trong đó diện tích nuôi tôm sú là 579.997 ha, sản lượng 280.647 tấn (chiếm 93,6 % diện tích, 94% sản lượng tôm sú cả nước), diện tích nuôi tôm chân trắng là 15.727 ha, sản lượng 77.830 tấn (chiếm 41,2.% diện tích, 42% sản lương tôm chân trắng nuôi cả nước).  

Năm 2012 cả nước có 1.529 cơ sở sản xuất tôm sú giống, sản xuất được hơn 37 tỷ con giống và có 185 cơ sở sản xuất tôm chân trắng giống, sản xuất được gần 30 tỷ giống. Số lượng cơ sở sản xuất giống giảm đi so với 2009 gần 600 cơ sở nhưng quy mô cơ sở lại lớn hơn nên sản lượng giống không giảm mà tăng lên. 

Năm 2012, cả nước có khoảng 100.776 ha diện tích tôm nước lợ bị thiệt hại do dịch bệnh (trong đó 91.174 ha nuôi tôm sú và 7.068 ha nuôi tôm thẻ), bao gồm hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS), đốm trắng, đầu vàng…gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuôi và ảnh hưởng đến sản lượng, giá trị xuất khẩu. Các tỉnh bị dịch bệnh nhiều nhất là: Sóc Trăng; Bạc Liêu; Bến Tre; Trà Vinh; Cà Mau. 

Trước tình hình dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, kéo dài, Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định việc tìm nguyên nhân gây bệnh và giải pháp phòng trị là nhiệm vụ cấp bách. Các nghiên cứu, tổng kết tập trung vào các yếu tố giống, môi trường, thức ăn, chế phẩm sinh học, ký sinh trùng, virus, vi khuẩn, bacteriophage, các nguyên nhân, tác nhân gây Hội chứng hoại tử gan tụy. Kết quả bước đầu xác định nguyên nhân gây tôm chết sớm, xuất hiện hội chứng hoại tử gan tuỵ ở tôm nuôi là: Tôm giống với chất lượng xấu (nhiễm Vibrio, có dấu hiệu bất thường gan tuỵ, thậm chí đã hoại tử gan tuỵ cấp), thả nuôi trong điều kiện môi trường bất lợi (hiện diện của thuốc bảo vệ thực vật, oxy hoà tan thấp, độ mặn cao, ô nhiễm hữu cơ…), hiện diện của vi khuẩn Vibrio và phage dẫn đến gây chết sớm và hội chứng hoại tử gan tuỵ ở tôm nuôi.

Theo đánh giá của Tổng cục Thủy sản, trong năm 2012, công tác phòng chống dịch bệnh tôm dù được triển khai sớm, nhưng giai đoạn đầu còn tản mạn, hạn chế về định hướng tổ chức triển khai nhiệm vụ, các đơn vị tham gia chưa thực sự huy động hết nguồn lực, cơ chế quản lý, phối hợp chưa tốt. Việc ban hành các văn bản quản lý, các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn quốc gia về con giống về điều kiện của cơ sở sản xuất giống còn chậm gây khó khăn trong công tác quản lý; Chất lượng tôm giống còn thấp và chưa được kiểm soát chặt chẽ; Ngoài ra cơ sở hạ tầng vùng nuôi còn yếu, hệ thống thủy lợi vùng nuôi chưa đảm bảo, các hộ nuôi tận dụng hết đất để làm ao nuôi nên không có ao lắng xử lý nước mà bơm trực tiếp nước bẩn từ mương đã mang theo đất phù sa và vi sinh vật gây hại vào ao nuôi. Một số nơi chưa tuân thủ mùa vụ nuôi, thả giống sớm; Công tác quan trắc môi trường trong nuôi trồng thủy sản đã có nhiều cố gắng, nhưng còn thiếu nguồn lực và tản mạn, thiếu định hướng nên hiệu quả thấp.

Trước những khó khăn của ngành tôm trong năm 2012, Hội nghị cũng đã tập trung bàn các giải pháp để bước sang năm 2013, ngành tôm nước lợ sẽ đạt được kết quả tốt, tập trung vào các vấn đề sau:

Tiếp tục nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân gây nên dịch bệnh trên tôm nước lợ, sớm đưa ra giải pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa dịch bệnh trên tôm.

Nhanh chóng bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật phục vụ quản lý nuôi tôm nước lợ

Rà soát, kiểm tra chặt chẽ các loại vật tư đầu vào dùng trong nuôi tôm; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tôm giống, đặc biệt là từ nguồn bố mẹ; ổn định môi trường vùng nuôi; Tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS; Phát triển hệ thống thông tin, thị trường; Đẩy mạnh nuôi tôm theo mô hình VietGAP, đào tạo VietGAP, hướng dẫn, nhân rộng các mô hình nuôi hiệu quả ở các địa phương. Tổ chức hướng dẫn quy trình kỹ thuật nuôi cho người dân.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết: Chính phủ đang làm hết sức để tháo gỡ những khó khăn về vấn đề thị trường, đặc biệt là rào cản kỹ thuật về chất Ethoxyquin trong xuất khẩu tôm nước lợ.  Trong thời gian vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang tích cực đàm phám với phía Nhật yêu cầu họ xem xét lại vấn đề rào cản chất Ethoxyquin. Bên cạnh đó, doanh nghiệp và hộ sản xuất trong nước cần áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm hạn chế đến mức thấp nhất dư lượng Ethoxyquin có trong tôm nguyên liệu”. 

Về vấn đề vốn cho nuôi tôm, Bộ trưởng cũng cho biết, hiện nay, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chính thức đồng ý đưa con tôm vào chương trình cho vay ưu đãi giống như con cá tra. 

Để vụ nuôi tôm năm 2013 được thắng lợi, Bộ trưởng yêu cầu: sau Hội nghị, Tổng cục Thủy sản sớm lấy ý kiến của các địa phương để hoàn chỉnh hướng dẫn về quy trình nuôi để giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh gây ra; Tiếp tục nghiên cứu làm rõ nguyên nhân xảy ra dịch bệnh trên tôm nuôi một cách đồng bộ. Các địa phương tăng cường công tác kiểm soát các khâu trong nuôi trồng thủy sản từ con giống, vật tư đầu vào, môi trường nuôi, đặc biệt kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu gây ảnh hưởng đến nuôi tôm. Tăng cường lực lượng chuyên trách cho công tác quản lý NTTS, đặc biệt là công tác thú y. Các doanh nghiệp xem xét liên kết với người nuôi và phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước nhằm phát triển bền vững nghề nuôi tôm.

Bên cạnh đó, trong thời gian tới cần có một chương trình nghiên cứu chọn tạo giống bố mẹ để từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm trong nước. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm cho người nuôi tôm.

 

Nguồn : fistenet.gov.vn